Tóm tắt
Đặt vấn đề: Tiêm ngắt quãng ngoài màng cứng là phương thức giảm đau chuyển dạ hiệu quả được ứng dụng trong những năm gần đây. Nhờ cải thiện sự phân bố thuốc tê trong khoang ngoài màng cứng, phương thức này giúp tăng hiệu quả phong bế cảm giác, hạn chế ức chế vận động và giảm nhu cầu can thiệp liều cứu so với truyền ngoài màng cứng liên tục. Đề tài này đánh giá hiệu quả và tính an toàn của tiêm ngắt quãng so với truyền liên tục thuốc tê ropivacain trong khoang ngoài màng cứng.
Đối tượng, phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu, ngẫu nhiên có so sánh trên 90 sản phụ gây tê ngoài màng cứng được truyền liên tục (n=45) và tiêm ngắt quãng (n=45) ropivacain 0,1% kết hợp fentanyl 2 mcg/mL để giảm đau trong chuyển dạ sinh thường tại Bệnh viện Từ Dũ từ tháng 05/2023 đến tháng 05/2024.
Kết quả: Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về các đặc điểm chung của mẹ và thai kỳ giữa hai nhóm nghiên cứu. Ở nhóm tiêm ngắt quãng (NQ), điểm đau VAS tại tất cả các thời điểm đều thấp hơn so với nhóm truyền liên tục (LT) với p < 0,05. Tỷ lệ bệnh nhân nhóm LT có số lần VAS > 3 là 55,6%, cao hơn đáng kể so với 6,7% ở nhóm NQ (p < 0,001). Số lần cần sử dụng liều cứu và can thiệp của nhân viên y tế ở nhóm LT cũng cao hơn so với nhóm NQ (p < 0,01). Tổng liều thuốc tê tiêu thụ trung bình mỗi giờ ở nhóm LT là 13,7 mg, cao hơn so với 10,8 mg ở nhóm NQ (p < 0,001). Không có bệnh nhân nào ở nhóm NQ bị ức chế vận động, trong khi ở nhóm LT ghi nhận 6 trường hợp (p < 0,05). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm về mức độ hài lòng của mẹ, các tác dụng không mong muốn cũng như điểm Apgar của trẻ sơ sinh.
Kết luận: Phương pháp tiêm ngắt quãng ngoài màng cứng trong giảm đau chuyển dạ mang lại hiệu quả tốt, ít ức chế vận động và giảm liều thuốc tê sử dụng hơn so với phương pháp truyền liên tục.
Nội dung dành cho thành viên
Vui lòng đăng nhập để đọc toàn văn bài báo và tải tệp PDF.
Nếu bạn chưa có tài khoản, hãy đăng ký miễn phí.
công trình này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-phi thương mại-NoDerivatives 4.0 License International . p>
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y học lâm sàng Bệnh viện Trung Ương Huế
