Tóm tắt
Đặt vấn đề: Kháng thể kháng thụ thể TSH (TRAb) đóng vai trò trung tâm trong cơ chế bệnh sinh, chẩn đoán và tiên lượng bệnh Basedow. Tuy nhiên, dữ liệu về biến đổi nồng độ TRAb trong điều trị Basedow ở trẻ em còn hạn chế, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam.
Đối tượng, phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu mô tả được thực hiện trên 40 bệnh nhi được chẩn đoán Basedow và điều trị bằng Methimazole trong thời gian ≥ 6 tháng tại Bệnh viện Trung ương Huế và Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế. Nồng độ TRAb được đo tại thời điểm chẩn đoán và sau 6 tháng điều trị. Tỷ lệ thay đổi nồng độ TRAb được tính toán và phân tích mối liên quan với một số yếu tố lâm sàng – cận lâm sàng chọn lọc.
Kết quả: Tại thời điểm chẩn đoán, TRAb trung vị là 20,91 IU/L. Sau 6 tháng điều trị, giá trị này giảm còn 8,01 IU/L, với tỷ lệ giảm trung vị đạt 57,68% (p < 0,05). TRAb có liên quan có ý nghĩa với tuổi, lồi mắt, FT4 huyết thanh và thể tích tuyến giáp. TRAb tương quan nghịch với tuổi (rs = –0,38; p < 0,05), và tương quan thuận với FT4 (rs = 0,46; p < 0,05), lồi mắt (rs = 0,55; p < 0,05), và thể tích tuyến giáp (rs = 0,412; p < 0,05). Tỷ lệ biến đổi TRAb (∆TRAb) tương quan thuận với biến đổi thể tích tuyến giáp (rs = 0,60; p < 0,05) và tương quan nghịch với tiền sử gia đình mắc bệnh tuyến giáp (rs = –0,43; p < 0,05). Các biểu hiện lâm sàng khác không cho thấy liên quan có ý nghĩa thống kê với ∆TRAb.
Kết luận: Nồng độ TRAb giảm đáng kể sau điều trị và có mối liên quan với các đặc điểm lâm sàng và đáp ứng điều trị. Theo dõi TRAb định kỳ có thể là công cụ hữu ích trong đánh giá hiệu quả điều trị nội khoa và tiên lượng bệnh Basedow ở trẻ em.
Nội dung dành cho thành viên
Vui lòng đăng nhập để đọc toàn văn bài báo và tải tệp PDF.
Nếu bạn chưa có tài khoản, hãy đăng ký miễn phí.
công trình này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-phi thương mại-NoDerivatives 4.0 License International . p>
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y học lâm sàng Bệnh viện Trung Ương Huế
