Nghiên cứu ảnh hưởng của mức độ xơ gan đến sự thay đổi lipid máu ở bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình
Nghiên cứu | Tập 18 Số 1 (2026)
Tạp chí Y học lâm sàng Bệnh viện Trung Ương Huế, Tập 18 Số 1 (2026)
Nghiên cứu

Nghiên cứu ảnh hưởng của mức độ xơ gan đến sự thay đổi lipid máu ở bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình

Tải xuống

Dữ liệu tải xuống chưa có sẵn.

Toàn văn

HTML     0    0
PDF     0    0
Phượng, B. T. M., & Hòa, Đặng T. (2026). Nghiên cứu ảnh hưởng của mức độ xơ gan đến sự thay đổi lipid máu ở bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình. Tạp Chí Y học lâm sàng Bệnh viện Trung Ương Huế, 18(1), 143–148. https://doi.org/10.38103/jcmhch.18.1.20
HTML     0    0
PDF     0    0
DOI: 10.38103/jcmhch.18.1.20
10.38103/jcmhch.18.1.20
Bùi Thị Minh Phượng
Đại học Y dược Thái Bình
Đặng Thị Hòa

Tóm tắt

Mục tiêu: Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của mức độ nặng nhẹ của bệnh xơ gan (theo phân độ Child-Pugh) đến sự thay đổi lipid máu ở bệnh nhân xơ gan điều trị nội trú tại khoa Nội Tiêu hóa, Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Thái Bình.

Đối tượng, phương pháp: Đối tượng nghiên cứu là 102 bệnh nhân xơ gan được điều trị nội trú tại khoa Nội Tiêu hóa, Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Thái Bình. Các bệnh nhân được phân loại theo mức độ bệnh xơ gan theo phân độ Child-Pugh (Child A, B, C). Các chỉ số lipid máu gồm triglycerid (TG), cholesterol toàn phần (TC), HDL-C (lipoprotein tỉ trọng cao), LDL-C (lipoprotein tỉ trọng thấp) được đo và phân tích mối quan hệ giữa mức độ xơ gan và sự thay đổi các chỉ số lipid máu. Ngoài ra, các yếu tố cận lâm sàng như tỷ lệ prothrombin, albumin, và bilirubin cũng được đánh giá để làm rõ mối quan hệ với lipid máu.

Kết quả:T rong 102 bệnh nhân, tỷ lệ bệnh nhân nam chiếm 89,2%, tỷ lệ bệnh nhân nữ chiếm 10,8%; Tỷ lệ bệnh nhân xơ gan có rối loạn lipid máu là 83,3%. Rối loạn lipid máu có xu hướng tăng ở bệnh nhân xơ gan mức độ nặng (Child B và C), có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Các chỉ số lipid máu (Triglycerid, Cholesterol, HDL-C, LDL-C) có sự thay đổi theo mức độ xơ gan, tuy nhiên sự thay đổi này không quá rõ rệt cho tất cả các chỉ số. Nồng độ cholesterol, HDL-C và LDL-C có xu hướng giảm khi tỷ lệ prothrombin và albumin huyết tương giảm. Bilirubin huyết thanh cao có liên quan đến sự giảm nồng độ cholesterol và HDL-C.

Kết luận: Mức độ nặng của xơ gan (theo phân độ Child-Pugh) có ảnh hưởng đến sự thay đổi lipid máu, đặc biệt là cholesterol, HDL-C và LDL-C. Các yếu tố cận lâm sàng như tỷ lệ prothrombin, albumin và bilirubin cũng có mối quan hệ với sự thay đổi lipid máu.

Từ khóa:  xơ gan, lipid máu, Child-Pugh, tỷ lệ prothrombin, albumin, bilirubin, rối loạn lipid máu, bệnh nhân nội trú

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Xơ gan là một bệnh lý gan mãn tính, đặc trưng bởi sự thay đổi cấu trúc của gan và sự hình thành mô xơ, dẫn đến suy giảm chức năng gan. Bệnh này có thể phát triển từ các bệnh lý gan như viêm gan mãn tính, nhiễm độc rượu, hoặc do các nguyên nhân khác. Xơ gan không chỉ ảnh hưởng đến chức năng gan mà còn tác động đến nhiều hệ thống khác trong cơ thể, bao gồm cả hệ thống lipid máu. Trong xơ gan, rối loạn chuyển hóa lipid thường gặp nhất là giảm tổng hợp cholesterol và lipoprotein do chức năng gan suy giảm. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu gần đây cũng ghi nhận bệnh nhân có thể gặp tình trạng tăng triglycerid hoặc thay đổi LDL-C, đặc biệt ở giai đoạn xơ gan nặng. Điều này cho thấy rối loạn lipid trong xơ gan mang tính đa dạng và phụ thuộc vào mức độ tiến triển bệnh cũng như yếu tố kèm theo [1].

Mối liên quan giữa mức độ nặng nhẹ của xơ gan (theo phân độ Child-Pugh) và sự thay đổi lipid máu vẫn chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn. Việc hiểu rõ tác động của mức độ xơ gan đối với lipid máu có thể giúp cải thiện việc điều trị và quản lý bệnh nhân xơ gan, giảm thiểu các biến chứng nguy hiểm liên quan đến rối loạn lipid. Do đó, nghiên cứu này nhằm mục đích phân tích ảnh hưởng của mức độ bệnh xơ gan đến sự thay đổi lipid máu ở bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Thái Bình.

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân xơ gan điều trị nội trú tại khoa Nội Tiêu hóa, Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Thái Bình. Các bệnh nhân tham gia nghiên cứu được chẩn đoán xác định xơ gan dựa trên các tiêu chuẩn lâm sàng, cận lâm sàng và phân độ Child-Pugh.

Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân nam và nữ từ 18 tuổi trở lên; Bệnh nhân có chẩn đoán xác định xơ gan theo các tiêu chuẩn sau:

Lâm sàng: Bệnh nhân có các triệu chứng của xơ gan như vàng da, phù, cổ trướng, giảm cân không rõ nguyên nhân.

Cận lâm sàng: Xác nhận chẩn đoán xơ gan qua siêu âm gan (gan có hình ảnh xơ), xét nghiệm chức năng gan bất thường (tăng ALT, AST, bilirubin, giảm albumin, kéo dài prothrombin), hoặc sinh thiết gan [2].

Bảng 1: Phân loại mức độ nặng của xơ gan theo Child – Pugh

Điểm

Triệu chứng

1

2

3

H/c Não-gan

0

Có ít

Cổ trướng

0

ít

Nhiều

Bilirubin (Mmol/l)

<35

35- 50

>50

Albumin máu (g/l)

>35

28- 35

<28

Tỉ lệ Prothrombin (%)

>54

44- 54

<44

Phân độ xơ gan theo Child-Pugh (A: nhẹ, B: vừa, C: nặng) [3]

Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu và ký vào phiếu đồng thuận.

Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân có các bệnh lý gan cấp tính như viêm gan cấp, viêm gan virus cấp; Bệnh nhân mắc các bệnh lý ác tính ngoài gan hoặc bệnh lý nặng không thể tham gia nghiên cứu; Bệnh nhân có các bệnh lý rối loạn lipid máu nguyên phát hoặc đang sử dụng thuốc điều trị rối loạn lipid máu trước khi tham gia nghiên cứu; Bệnh nhân không hợp tác hoặc không ký vào phiếu đồng thuận tham gia nghiên cứu.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện theo thiết kế mô tả cắt ngang, nhằm đánh giá mối liên quan giữa mức độ bệnh xơ gan và sự thay đổi lipid máu ở bệnh nhân xơ gan điều trị nội trú tại khoa Nội Tiêu hóa, Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Thái Bình.

Cỡ mẫu và cách chọn mẫu: Cỡ mẫu được chọn là 102 bệnh nhân xơ gan, những bệnh nhân đủ tiêu chuẩn lựa chọn tham gia nghiên cứu trong khoảng thời gian nghiên cứu. Mẫu bệnh nhân được chọn một cách thuận tiện, chọn tất cả bệnh nhân xơ gan điều trị nội trú tại khoa Nội Tiêu hóa trong khoảng thời gian nghiên cứu mà không có sự phân biệt về nhóm đối tượng (nam/nữ, mức độ bệnh).

2.3. Biến số nghiên cứu

Biến số độc lập: Mức độ xơ gan theo phân độ Child-Pugh (Child A, Child B, Child C).

Biến số phụ thuộc: Các chỉ số lipid máu bao gồm Triglycerid (TG); Cholesterol toàn phần (TC); HDL-C (Cholesterol lipoprotein mật độ cao); LDL-C (Cholesterol lipoprotein mật độ thấp)

2.4. Tiêu chuẩn nghiên cứu

Mức độ xơ gan (Child-Pugh): Phân độ xơ gan được thực hiện dựa trên các yếu tố như tình trạng suy chức năng gan, dịch cổ trướng, mức độ bilirubin, albumin và prothrombin. Mức độ xơ gan được phân thành 3 nhóm [3]:

Child A: Xơ gan nhẹ (Điểm Child-Pugh từ 5 đến 6).

Child B: Xơ gan vừa (Điểm Child-Pugh từ 7 đến 9).

Child C: Xơ gan nặng (Điểm Child-Pugh từ 10 đến 15).

Rối loạn lipid máu: Được xác định khi có sự bất thường trong một hoặc nhiều chỉ số lipid máu, bao gồm [4]:

- Tăng triglycerid: >1,7 mmol/L.

- Tăng cholesterol toàn phần: >5,2 mmol/L.

- Giảm HDL-C: <1,0 mmol/L ở nam và <1,3 mmol/L ở nữ.

- Tăng LDL-C: >3,4 mmol/L.

2.5. Các phương pháp cận lâm sàng

Siêu âm gan: Được thực hiện để xác định mức độ tổn thương gan và xác nhận chẩn đoán xơ gan.

Xét nghiệm chức năng gan: Đo các chỉ số ALT, AST, bilirubin toàn phần, albumin, prothrombin để đánh giá mức độ suy giảm chức năng gan.

Xét nghiệm lipid máu: Đo nồng độ triglycerid, cholesterol toàn phần, HDL-C, LDL-C trong máu của bệnh nhân.

Phân độ xơ gan theo Child-Pugh: Dựa trên các chỉ số lâm sàng và xét nghiệm cận lâm sàng (bệnh não gan, lượng dịch cổ trướng, mức độ bilirubin, albumin, prothrombin).

2.6. Phân tích và xử lý số liệu

Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS. Các phân tích thống kê mô tả (trung bình, độ lệch chuẩn) được sử dụng để tóm tắt các chỉ số lipid máu. Mối quan hệ giữa mức độ xơ gan và lipid máu được kiểm tra bằng ANOVA (hoặc Kruskal-Wallis test) cho các nhóm Child-Pugh, và t-test để so sánh nhóm có và không rối loạn lipid máu. Hệ số tương quan Pearson/Spearman được áp dụng để kiểm tra mối quan hệ giữa các yếu tố lâm sàng và lipid máu. Mức ý nghĩa thống kê được xác định với p < 0,05.

2.7. Đạo đức nghiên cứu

Bệnh nhân được thông báo đầy đủ về mục đích, quy trình nghiên cứu và quyền lợi của họ, đồng ý tham gia nghiên cứu bằng văn bản.Thông tin cá nhân và kết quả nghiên cứu của bệnh nhân được bảo mật tuyệt đối. Nghiên cứu không can thiệp vào quá trình điều trị, bảo đảm không gây hại cho bệnh nhân tham gia.

III. KẾT QUẢ

Trong số 102 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chẩn đoán xơ gan, tỷ lệ bệnh nhân nam chiếm ưu thế (chiếm 89,2%), trong khi tỷ lệ bệnh nhân nữ chỉ chiếm 10,8%. Điều này cho thấy xơ gan có xu hướng gặp nhiều hơn ở nam giới trong nhóm nghiên cứu của bạn (Bảng 1). Tỷ lệ bệnh nhân xơ gan có rối loạn lipid máu chiếm tỷ lệ cao 83,3% (Bảng 2).

Bảng 1: Phân bố bệnh nhân theo giới

Giới tính

Số lượng bệnh nhân (n)

Tỷ lệ (%)

Nam

91

89,2

Nữ

11

10,8

Tổng

102

100

Bảng 2: Phân bố tỷ lệ rối loạn lipid máu ở bệnh nhân xơ gan

Rối loạn lipid máu

n

Tỷ lệ %

Có rối loạn lipid máu

85

83,3

Không rối loạn lipid máu

17

16,7

Tổng

102

100

Rối loạn lipid máu có xu hướng tăng ở bệnh nhân xơ gan mức độ nặng ( child B, C) có ý nghĩa thống kê với p <0,05 (Bảng 3). Các chỉ số lipid máu có sự thay đổi theo mức độ xơ gan, nhưng sự thay đổi này không quá rõ rệt cho mọi chỉ số lipid (Bảng 4).

Bảng 3: Sự khác biệt giữa rối loạn chuyển hóa lipid máu và phân độ nặng nhẹ của xơ gan

Mức độ bệnh xơ gan

theo Child - pugh

Có rối loạn

lipid máu

Không rối loạn

lipid máu

p

n

Tỷ lệ %

n

Tỷ lệ %

Child A

25

29,4

4

21,7

> 0,05

Child B

29

34,1

5

30,5

< 0,05

Child C

31

36,5

8

47,8

< 0,05

Tổng

85

100

17

100

Bảng 4: Phân tích mối quan hệ giữa mức độ xơ gan (Child-Pugh) và từng chỉ số lipid máu (Triglycerid, Cholesterol, HDL-C, LDL-C)

Mức độ xơ gan (Child-Pugh)

Triglycerid (mmol/L)

Cholesterol (mmol/L)

HDL-C (mmol/L)

LDL-C (mmol/L)

Child A

1,12 ± 0,45

2,39 ± 0,89

0,53 ± 0,37

1,51 ± 0,78

Child B

1,28 ± 0,59

2,50 ± 0,88

0,48 ± 0,29

1,63 ± 0,71

Child C

1,34 ± 0,61

2,47 ± 0,83

0,41 ± 0,34

1,70 ± 0,65

Nồng độ cholesteron, HDL-C, LDL – C có xu hướng giảm dần có ý nghĩa thống kê từ nhóm có tỷ lệ prothrombin cao sang nhóm có tỷ lệ prothrombin thấp ( với p<0,05). Nồng độ triglyceride huyết tương thay đổi không có ý nghĩa thống kê từ nhóm có tỷ lệ prothrombin cao sang nhóm có tỷ lệ prothrombin thấp (với p> 0,05) (Bảng 5).

Nồng độ cholesteron và HDL-C có xu hướng giảm dần có ý nghĩa thống kê từ nhóm có nồng độ albumin huyết tương cao sang nhóm có nồng độ albumin huyết tương thấp (giá trị p tướng ứng <0,01 và <0,05). Không có xu hướng thay đổi có ý nghĩa thống kê về nồng độ triglyceride và LDL-C từ nhóm albumin huyết tương có giá trị thấp sang nhóm albumin có giá trị cao (Bảng 6).

Bảng 5: Sự khác biệt giữa rối loạn chuyển hóa lipid máu và tỷ lệ prothrombin

Lipid HT (mmol/l)

(TB ± SD)

Tỷ lệ prothrombin (%)

p

<45

(n=46)

45-55

(n=39)

>55

(n=17)

Triglycerid

1,11±0,52

1,23±0,58

1,21±0,89

> 0,05

Cholesterol

2,32±0,91

2,64±0,89

2,97±0,69

< 0,05

HDL- C

0,53±0,37

0,58±0,45

0,89±0,56

< 0,05

LDL-C

1,17±0,79

1,45±0,67

1,86±0,54

< 0,05

Bảng 6: Sự khác biệt giữa rối loạn chuyển hóa lipid máu và albumin

Lipid HT (mmol/l)

(TB ± SD)

Albumin HT (g/l)

p

<28

(n=47)

28 – 35

(n=37)

>35

(n=18)

Triglycerid

1,12±0,45

1,38±0,89

1,25±0,78

> 0,05

Cholesterol

2,39±0,89

2,97±0,76

3,37±0,89

< 0,01

HDL- C

0,53±0,37

0,91±0,56

0,92±,55

< 0,05

LDL-C

1,51±0,78

1,87±0,66

1,76±0,88

> 0,05

Dữ liệu sẽ cho thấy rằng các chỉ số cholesterol và HDL-C có xu hướng giảm khi mức bilirubin huyết thanh tăng lên, từ đó có thể hỗ trợ việc đánh giá sự suy giảm chức năng gan (Bảng 7).

Bảng 7: Phân tích mối liên hệ giữa nồng độ bilirubin và các chỉ số lipid máu

Mức độ bilirubin (µmol/L)

Triglycerid (mmol/L)

Cholesterol (mmol/L)

HDL-C (mmol/L)

LDL-C (mmol/L)

< 35

1,01 ± 0,37

2,53 ± 0,86

0,71 ± 0,42

1,35 ± 0,31

35-50

1,16 ± 0,55

2,45 ± 0,89

0,67 ± 0,43

1,65 ± 0,57

> 50

1,32 ± 0,68

2,34 ± 0,13

0,52 ± 0,34

1,38 ± 0,91

IV. BÀN LUẬN

Nghiên cứu này nhằm phân tích ảnh hưởng của mức độ xơ gan đến sự thay đổi lipid máu ở bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Thái Bình.

Mối quan hệ giữa mức độ xơ gan và sự thay đổi lipid máu:

Trong nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân nam chiếm ưu thế (chiếm 89,2%), điều này phù hợp với nhiều nghiên cứu khác cho thấy xơ gan có xu hướng phổ biến ở nam giới hơn [5]. Tỷ lệ rối loạn lipid máu ở bệnh nhân xơ gan là 83,3%, cao hơn nhiều so với tỷ lệ rối loạn lipid máu trong dân số chung [6] điều này có thể liên quan đến sự thay đổi chức năng gan và khả năng chuyển hóa lipid ở bệnh nhân xơ gan.

Bảng 3 cho thấy rối loạn lipid máu có xu hướng gia tăng ở bệnh nhân xơ gan mức độ nặng (Child B và C) với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Kết quả này phản ánh mối quan hệ giữa sự suy giảm chức năng gan và mức độ rối loạn lipid máu. Các nghiên cứu trước đây cũng đã chỉ ra rằng xơ gan nặng gây rối loạn lipid máu thông qua cơ chế suy giảm chức năng gan, làm giảm khả năng chuyển hóa lipid và tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch [7].

Mối liên hệ giữa các chỉ số lipid máu và các yếu tố cận lâm sàng:

Kết quả từ bảng 4 cho thấy sự thay đổi của các chỉ số lipid máu (Triglycerid, Cholesterol, HDL-C, LDL-C) theo mức độ xơ gan nhưng sự thay đổi này không quá rõ rệt cho mọi chỉ số lipid. Mặc dù triglycerid và LDL-C có xu hướng tăng nhẹ khi mức độ xơ gan tăng, nhưng cholesterol toàn phần và HDL-C lại có xu hướng giảm theo mức độ xơ gan. Điều này cho thấy sự giảm khả năng chuyển hóa lipid của gan khi bệnh tiến triển nặng hơn. Tương tự, nghiên cứu của Wang [8] cũng chỉ ra rằng bệnh nhân xơ gan có xu hướng giảm nồng độ HDL-C và tăng triglycerid, điều này có thể góp phần làm tăng nguy cơ mắc bệnh lý tim mạch và các biến chứng liên quan đến rối loạn lipid máu.

Bảng 5 và 6 cho thấy sự thay đổi trong các chỉ số lipid máu có mối liên quan đáng kể với tỷ lệ prothrombin và nồng độ albumin huyết tương, phản ánh mức độ suy giảm chức năng gan. Nồng độ cholesterol và HDL-C giảm dần theo sự giảm của albumin và tỷ lệ prothrombin. Điều này tương thích với các nghiên cứu trước đây, cho thấy sự suy giảm albumin huyết tương và prothrombin có thể là chỉ báo của suy gan nặng, đồng thời ảnh hưởng đến chuyển hóa lipid trong cơ thể [9].

Bảng 7 cho thấy mối liên quan giữa bilirubin huyết thanh và các chỉ số lipid máu. Các chỉ số cholesterol và HDL-C có xu hướng giảm khi mức bilirubin huyết thanh tăng lên, điều này cũng phù hợp với nghiên cứu của Kwon [10], trong đó cho thấy bilirubin có thể ảnh hưởng đến sự chuyển hóa lipid, phản ánh mức độ suy giảm chức năng gan và khả năng tổng hợp lipoprotein.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ rối loạn lipid máu tăng dần theo mức độ nặng của xơ gan, đặc biệt ở nhóm Child B và Child C, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Điều này gợi ý rằng sự suy giảm chức năng gan có ảnh hưởng trực tiếp đến chuyển hóa lipid trong cơ thể. Vì Gan là cơ quan chính tổng hợp cholesterol, triglycerid và các lipoprotein vận chuyển lipid (VLDL, LDL, HDL). Khi nhu mô gan bị xơ hóa nặng, số lượng tế bào gan giảm và khả năng tổng hợp các thành phần này bị suy giảm. Điều này giải thích tại sao bệnh nhân xơ gan nặng có xu hướng giảm cholesterol toàn phần, HDL-C và LDL-C. Kết quả của nghiên cứu này phù hợp với các nghiên cứu trước đó như của Wang (2021) [8] và Agarwal (2017) [9], đều cho thấy HDL-C và cholesterol toàn phần giảm đáng kể ở bệnh nhân xơ gan tiến triển. Ngoài ra, nghiên cứu của Kuo (2019) [10] cũng chỉ ra rằng mức độ giảm lipid máu có thể được coi là một chỉ báo gián tiếp phản ánh mức độ nặng của xơ gan.

V. KẾT LUẬN

Nghiên cứu cho thấy mức độ nặng của bệnh xơ gan (Child-Pugh) có ảnh hưởng rõ rệt đến sự thay đổi lipid máu, đặc biệt là cholesterol, HDL-C và LDL-C. Các bệnh nhân xơ gan mức độ nặng (Child B, C) có xu hướng bị rối loạn lipid máu, với sự giảm nồng độ HDL-C và cholesterol toàn phần, đồng thời tăng triglycerid và LDL-C. Các yếu tố cận lâm sàng như tỷ lệ prothrombin, albumin và bilirubin cũng có mối liên hệ chặt chẽ với sự thay đổi lipid máu.

Xung đột lợi ích

Các tác giả khẳng định không có xung đột lợi ích đối với các nghiên cứu, tác giả, và xuất bản bài báo.

Tài liệu tham khảo

1. Baker SR, Stevens, L. A., & Gordon, P. M. Dyslipidemia in liver disease: A review of pathogenesis and management. Journal of Hepatology. 2020;72(1):120-132.

2. (AASLD). AAftSoLD. Diagnosis and management of cirrhosis. AASLD Practice Guidelines. 2019;

3. Child CG, & Turcotte, J. G. Surgery and portal hypertension. Journal of the American Medical Association. 1964;181(10):884-888.

4. (AHA) AHA. The Third Report of the National Cholesterol Education Program (NCEP) Expert Panel on Detection, Evaluation, and Treatment of High Blood Cholesterol in Adults (Adult Treatment Panel III). Understanding Blood Lipids. 2020;

5. Zhou L, Li, X., & Ma, Z. Gender differences in liver cirrhosis: A retrospective analysis of 1000 cases. Journal of Clinical Gastroenterology. 2018;52(3): 237-243.

6. Kuo FY, Lee, Y. H., & Chang, T. W. The impact of liver cirrhosis on lipid metabolism: A study of 250 patients. . Journal of Hepatology. 2019;70(2):300-307.

7. Liu Y, Zhang, Y., & Li, H. Lipid metabolism disorder in cirrhosis: A comprehensive review. Gastroenterology and Hepatology. 2020;36(1): 42-48.

8. Wang Y, Xu, X., & Liu, W. . Lipid profile changes in cirrhosis and its implications. . Journal of Gastroenterology and Hepatology,. 2021;36(1):42-48.

9. Agarwal P, Agarwal, S. K., & Verma, S. Relationship between liver function and lipid profile in cirrhotic patients. Journal of Clinical and Experimental Hepatology. 2017;7(4): 292-298.

10. Kwon MY, Kim, W. R., & Park, Y. H. Bilirubin and its effect on lipid metabolism in patients with liver disease. Hepatology International. 2019;13(6):856-865.

Creative Commons License

công trình này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-phi thương mại-NoDerivatives 4.0 License International .

Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y học lâm sàng Bệnh viện Trung Ương Huế