Nghiên cứu hiệu quả giảm đau trong phẫu thuật tim bằng phương pháp gây tê mặt phẳng cơ dựng sống
Nghiên cứu | Tập 18 Số 6 (2026)
Tạp chí Y học lâm sàng Bệnh viện Trung Ương Huế, Tập 18 Số 6 (2026)
Nghiên cứu

Nghiên cứu hiệu quả giảm đau trong phẫu thuật tim bằng phương pháp gây tê mặt phẳng cơ dựng sống

Tải xuống

Dữ liệu tải xuống chưa có sẵn.

Toàn văn

HTML     0    0
PDF     0    0
Quyền, V. Đại, Uyên, Đặng T., An, N. T., Thông, N. H., & Luân, N. T. (2026). Nghiên cứu hiệu quả giảm đau trong phẫu thuật tim bằng phương pháp gây tê mặt phẳng cơ dựng sống. Tạp Chí Y học lâm sàng Bệnh viện Trung Ương Huế, 18(6), 135–143. https://doi.org/10.38103/jcmhch.18.6.19
HTML     0    0
PDF     0    0
DOI: 10.38103/jcmhch.18.6.19
10.38103/jcmhch.18.6.19
Võ Đại Quyền
Bệnh viện TW Huế
Đặng Thế Uyên
Nguyễn Trường An
Nguyễn Huy Thông
Nguyễn Thành Luân
Bệnh viện TW Huế

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Kiểm soát đau trong phẫu thuật tim đóng vai trò quan trọng nhằm hạn chế đáp ứng stress huyết động và giảm nhu cầu opioid. Gây tê mặt phẳng cơ dựng sống (ESP) là kỹ thuật gây tê vùng có tiềm năng tiết kiệm opioid trong mổ, tuy nhiên dữ liệu tại Việt Nam còn hạn chế. Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả giảm đau trong mổ của ESP trong phẫu thuật tim hở với kết cục chính là lượng fentanyl tiêu thụ trong mổ và kết cục phụ là biến đổi huyết động trong mổ.

Đối tượng, phương pháp: Thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên trên 120 bệnh nhân phẫu thuật tim tại Bệnh viện Trung ương Huế (9/2025–6/2026). Bệnh nhân được phân bổ ngẫu nhiên vào nhóm ESP (n = 60, gây tê ESP hai bên bằng catheter kết hợp gây mê toàn thân) hoặc nhóm chứng (n = 60, không thực hiện ESP, gây mê toàn thân và giảm đau PCA morphin tĩnh mạch sau mổ). Kết cục chính được xác định trước là tổng lượng fentanyl tiêu thụ trong mổ, kết cục phụ là biến đổi huyết động trong mổ.

Kết quả: Lượng fentanyl trong mổ ở nhóm ESP thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng (4,3 ± 0,7 so với 5,8 ± 0,7 µg/kg; p < 0,001), giảm 26,7%. Sự khác biệt vẫn có ý nghĩa sau hiệu chỉnh tuổi và thời gian phẫu thuật bằng hồi quy đa biến. Về kết cục phụ, các chỉ số huyết động và theo dõi gây mê không khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm. Thời gian thực hiện ESP trung bình 12,6 ± 2,9 phút, không ghi nhận biến chứng nghiêm trọng.

Kết luận: Gây tê mặt phẳng cơ dựng sống bằng catheter dưới hướng dẫn siêu âm giúp giảm có ý nghĩa lượng fentanyl tiêu thụ trong mổ phẫu thuật tim. Không ghi nhận biến chứng nghiêm trọng trong nghiên cứu. Tuy nhiên cần các thử nghiệm đa trung tâm, cỡ mẫu lớn hơn để khẳng định tính an toàn và khả thi khi áp dụng thường quy

Từ khóa:  gây tê mặt phẳng cơ dựng sống, phẫu thuật tim, fentanyl
🔒

Nội dung dành cho thành viên

Vui lòng đăng nhập để đọc toàn văn bài báo và tải tệp PDF.
Nếu bạn chưa có tài khoản, hãy đăng ký miễn phí.

Đăng ký
Creative Commons License

công trình này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-phi thương mại-NoDerivatives 4.0 License International .

Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y học lâm sàng Bệnh viện Trung Ương Huế