Mục lục
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Tại Việt Nam, nguồn thận hiến từ người hiến sau khi chết còn rất hạn chế. Cần đánh giá hệ thống kết quả ghép thận từ người hiến chết não (DBD) trong điều kiện thực hành lâm sàng tại nước ta, đồng thời ghi nhận kinh nghiệm theo dõi dài hạn từ cặp ghép thận từ người hiến chết tuần hoàn (DCD) đầu tiên. Đề tài này nhằm đánh giá chức năng thận ghép, biến chứng và tỷ lệ sống còn dài hạn của đoàn hệ DBD tại Bệnh viện Chợ Rẫy; mô tả diễn tiến lâm sàng > 10 năm của cặp ghép DCD KC10 đầu tiên dưới dạng báo cáo theo dõi cặp ca.
Đối tượng, phương pháp: Mô tả hàng loạt ca có theo dõi dọc trên 78 bệnh nhân DBD (2008–2026); cặp ghép DCD KC10 (02 bệnh nhân, cùng người hiến, 6/2015) được trình bày riêng như một báo cáo theo dõi cặp ca (case-pair report). Chức năng thận đánh giá theo eGFR (CKD-EPI 2021); phân tích sống còn của đoàn hệ DBD theo Kaplan–Meier. Khoá số liệu 20/4/2026.
Kết quả: Tuổi trung vị người nhận DBD 37,5 (Q1–Q3: 31,2–48,0); người hiến DBD 39,5 tuổi (KDPI > 80% chiếm 9,3%). eGFR 12 tháng nhóm DBD: trung vị 67,9 ml/phút/1,73m². Tỷ lệ DGF nhóm DBD 13,2%. Sống còn bệnh nhân DBD 1/5/10 năm: 94,7%/91,6%/82,4%; sống còn thận ghép không tử vong (DCGS) 10 năm: 83,0%. Cặp DCD KC10 dùng chung một người hiến nam 65 tuổi (KDPI 97%, thời gian thiếu máu nóng 16 phút): một bệnh nhân (BN-A, Nguyễn Văn Thoan) duy trì thận ghép hoạt động ổn định ở mức eGFR ~ 39–40 ml/phút/1,73m² qua > 10 năm; bệnh nhân còn lại (BN-B, Nguyễn Văn Vọng) suy giảm chức năng thận ghép sớm, quay lại lọc máu từ 2019 (~3,9 năm) và tử vong tháng 9/2025 (~10,3 năm) do sốc nhiễm trùng trên nền bệnh thận ghép mạn.
Kết luận: Ghép thận DBD tại Bệnh viện Chợ Rẫy đạt kết quả khả quan với sống còn dài hạn nằm trong khoảng được báo cáo trên thế giới. Cặp ghép DCD KC10 đầu tiên cho thấy theo dõi > 10 năm là khả thi, với một thận ghép hoạt động ổn định và một trường hợp suy ghép sớm - minh hoạ cả tiềm năng lẫn thách thức của thận DCD nguy cơ cao trong điều kiện Việt Nam.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh thận mạn giai đoạn cuối là vấn đề sức khoẻ toàn cầu; ghép thận được công nhận là phương pháp điều trị tối ưu, mang lại lợi ích vượt trội so với lọc máu chu kỳ về tiên lượng sống và chất lượng cuộc sống [1,2]. Tại các nước phát triển, thận từ người hiến sau khi chết - gồm người hiến chết não (DBD) và người hiến chết tuần hoàn (DCD) - chiếm hơn 70% nguồn tạng ghép. Tuy nhiên, ở Việt Nam, mặc dù chương trình ghép thận đã phát triển hơn 30 năm kể từ ca ghép đầu tiên năm 1992, tỷ lệ ghép thận từ nguồn người hiến sau khi chết vẫn rất hạn chế (khoảng 4% tổng số ca ghép thận tính đến năm 2022).
Sự khác biệt sinh lý bệnh giữa hai nguồn tạng - đặc biệt là thời gian thiếu máu nóng kéo dài ở DCD - đã đặt ra nhiều quan ngại về kết quả lâm sàng. Các nghiên cứu lớn quốc tế cho thấy DCD có tỷ lệ trì hoãn chức năng thận ghép (DGF) cao hơn DBD, song sống còn dài hạn của thận ghép và bệnh nhân có thể tương đương khi có lựa chọn người hiến và người nhận hợp lý [3-5]>. Tuy nhiên, dữ liệu từ Việt Nam còn khan hiếm, đặc biệt là các báo cáo theo dõi dài hạn từ các trung tâm ghép tạng đầu ngành.
Bệnh viện Chợ Rẫy là một trong những trung tâm ghép tạng hàng đầu Việt Nam. Ca ghép thận đầu tiên từ DBD tại Việt Nam được thực hiện tại Bệnh viện Chợ Rẫy vào ngày 23/4/2008. Đặc biệt, ngày 19–20/6/2015, tại Bệnh viện Chợ Rẫy đã thực hiện thành công cặp ghép thận đầu tiên từ DCD tại Việt Nam - thuộc khuôn khổ Đề tài KC10 cấp Nhà nước, đã được nghiệm thu. Báo cáo này trình bày kết quả theo dõi dài hạn của 78 bệnh nhân DBD và mô tả diễn tiến của cặp ghép DCD KC10 đầu tiên với mục tiêu: (i) Đánh giá chức năng thận ghép và biến chứng sau phẫu thuật; (ii) Khảo sát tỷ lệ sống còn của thận ghép và bệnh nhân nhận thận từ người hiến chết não tại Bệnh viện Chợ Rẫy; (iii) Mô tả diễn tiến lâm sàng dài hạn (> 10 năm) của cặp ghép DCD KC10 đầu tiên dưới dạng báo cáo theo dõi cặp ca.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca, có theo dõi dọc, hồi cứu, đơn trung tâm, tuân thủ chuẩn báo cáo STROBE.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn chọn bệnh: Bệnh nhân ≥ 16 tuổi nhận thận từ người hiến chết não hoặc người hiến chết tuần hoàn (Maastricht III/IV) tại Bệnh viện Chợ Rẫy, được theo dõi định kỳ tại Bệnh viện Chợ Rẫy.
Đoàn hệ DBD: Tất cả bệnh nhân nhận thận từ người hiến chết não tại Bệnh viện Chợ Rẫy từ 23/4/2008 đến 31/3/2026. Đây là đoàn hệ chính của nghiên cứu.
Cặp ghép DCD KC10: 02 bệnh nhân thuộc cặp ghép DCD đầu tiên Việt Nam (19–20/6/2015), cùng nhận thận từ một người hiến, thuộc khuôn khổ Đề tài KC10 đã nghiệm thu cấp Nhà nước. Do cỡ mẫu chỉ 02 ca, nhóm này không được phân tích thống kê so sánh với DBD mà được trình bày riêng dưới dạng báo cáo theo dõi cặp ca (case-pair report) với theo dõi > 10 năm. Các trường hợp DCD ngoài cặp đầu tiên không được đưa vào báo cáo do chưa có hướng dẫn của Bộ Y tế cho việc mở rộng chương trình DCD ngoài KC10.
Tiêu chuẩn loại trừ: thất lạc hồ sơ ghép, hồ sơ thiếu các biến chính, hoặc bệnh nhân tái khám hoàn toàn tại cơ sở khác.
2.3. Cỡ mẫu
Lấy mẫu thuận tiện. Cỡ mẫu thực tế: 78 bệnh nhân DBD (đoàn hệ chính) và 02 bệnh nhân DCD KC10 (báo cáo cặp ca).
2.4. Biến số và quy trình thu thập
Hồi cứu hồ sơ bệnh án nội trú và ngoại trú tại Khoa Ngoại Tiết Niệu, Bệnh viện Chợ Rẫy. Đối với 02 ca DCD KC10, dữ liệu giai đoạn ghép và năm đầu được kế thừa từ báo cáo KC10; dữ liệu năm thứ 2 trở đi được thu thập mới. Các biến số chính: đặc điểm người nhận và người hiến, KDPI, bất tương hợp HLA, thời gian thiếu máu lạnh (CIT) và nóng (WIT), phác đồ ức chế miễn dịch, eGFR (CKD-EPI 2021 race-free) tại các thời điểm 1, 3, 6, 9, 12 tháng và mỗi năm sau ghép, biến chứng (DGF, thải ghép, biến chứng nội–ngoại khoa) và sống còn.
2.5. Định nghĩa biến cố và quy ước kiểm duyệt
Để bảo đảm tính nhất quán trong phân tích sống còn, các biến cố và quy ước kiểm duyệt được định nghĩa trước như sau:
- Trì hoãn chức năng thận ghép (DGF): nhu cầu lọc máu trong vòng 7 ngày đầu sau ghép.
- Thất bại thận ghép: quay lại lọc máu định kỳ, ghép lại, hoặc cắt bỏ thận ghép - lấy mốc thời điểm sớm nhất được ghi nhận trong hồ sơ.
- Sống còn bệnh nhân (PS): biến cố là tử vong do mọi nguyên nhân; bệnh nhân còn sống được kiểm duyệt tại lần theo dõi cuối.
- Sống còn chung thận ghép (OGS): biến cố là thất bại thận ghép hoặc tử vong (xảy ra trước được tính), tức tử vong với thận còn hoạt động cũng được tính là biến cố mất thận ghép.
- Sống còn thận ghép không tử vong (DCGS): biến cố là thất bại thận ghép; bệnh nhân tử vong với thận còn hoạt động được kiểm duyệt tại thời điểm tử vong (không tính là biến cố).
2.6. Phân tích số liệu
Sử dụng Microsoft Excel 365 và Python 3.12 (pandas, scipy, lifelines). Biến định lượng: trung vị (Q1–Q3); biến định tính: tần số và tỷ lệ %. Đối với đoàn hệ DBD, so sánh giữa các phân nhóm bằng Mann–Whitney U hoặc Fisher chính xác; phân tích sống còn bằng Kaplan–Meier với kiểm định log-rank, mức ý nghĩa p < 0,05. Đối với cặp DCD KC10 (n = 2), không thực hiện kiểm định thống kê so sánh; kết quả được mô tả theo từng bệnh nhân.
2.7. Đạo đức nghiên cứu
Đề tài được Hội đồng Đạo đức trong Nghiên cứu Y sinh học Bệnh viện Chợ Rẫy chấp thuận (số 08-26/CN-HĐĐĐ ngày 29/01/2026). Toàn bộ thông tin cá nhân được mã hoá để bảo đảm bí mật danh tính.
III. KẾT QUẢ
3.1. Đặc điểm dân số nghiên cứu
Trong giai đoạn 23/4/2008–20/4/2026, có 78 ca ghép thận từ người hiến tạng chết não thoả tiêu chuẩn trong 18 năm. Thời gian theo dõi trung vị nhóm DBD: 6,4 năm (Q1–Q3: 2,0–9,8; tối đa 18,0 năm). Hai trường hợp nhận thận từ người tạng chết tuần hoàn (DCD) thuộc nghiên cứu KC10 (ghép 19–20/6/2015), cả hai đều có thời gian theo dõi > 10 năm. Hai bệnh nhân DCD có thời gian điều trị thay thế thận trước ghép rất dài (trung vị 111,7 tháng), gấp gần 3 lần nhóm DBD (40,2 tháng). Người hiến DCD KC10 cao tuổi (65 tuổi) với KDPI 97% - thuộc nhóm thận hiến nguy cơ cao. Thời gian thiếu máu nóng của cặp DCD là 16,0 phút so với gần 0 ở DBD - đây là đặc trưng sinh lý bệnh quan trọng phân biệt hai nguồn tạng (Bảng 1).
Bảng 1: Đặc điểm dân số nghiên cứu
Đặc điểm | DBD (n=78) | DCD KC10 (n=2) | Ghi chú |
Tuổi người nhận (năm), trung vị (Q1–Q3) | 37,5 (31,2–48,0) | 41,0 (39,0–43,0) | - |
Giới nam người nhận, n (%) | 50 (64,1) | 2 (100,0) | - |
BMI (kg/m²), trung vị | 20,1 (18,6–21,8) | 20,2 (20,0–20,4) | - |
Thời gian điều trị thay thế thận trước ghép (tháng) | 40,2 (22,7–58,9) | 111,7 (108,9–114,5) | - |
PRA > 20%, n (%) | 4 (6,6) | 0 | - |
Tuổi người hiến (năm), trung vị | 39,5 (30,0–50,0) | 65,0 | - |
Giới nam người hiến, n (%) | 61 (78,2) | 1 (100,0) | cùng 1 người hiến |
KDPI (%), trung vị | 31,5 (21,0–45,0) | 97,0 | - |
KDPI > 80%, n (%) | 5/54 (9,3) | 1/1 (100,0) | - |
Bất tương hợp HLA tổng, trung vị | 4,0 (3,0–5,0) | 4,5 | - |
Thời gian thiếu máu lạnh (giờ) | 7,4 (3,0–10,8) | 11,4 | - |
Thời gian thiếu máu nóng (phút) | ≈ 0,0 | 16,0 | đặc trưng DCD |
Dẫn nhập Basiliximab, n (%) | 43 (55,1) | 2 (100,0) | - |
Dẫn nhập ATG, n (%) | 26 (33,3) | 0 | - |
Do cỡ mẫu DCD chỉ 02 ca, các con số nhóm DCD được trình bày dưới dạng giá trị quan sát, không kèm kiểm định thống kê so sánh với DBD.
3.2. Chức năng thận ghép theo thời gian
Diễn tiến eGFR của đoàn hệ DBD được trình bày tại Bảng 2; diễn tiến của từng bệnh nhân DCD KC10 được trình bày riêng tại Bảng 3.
Bảng 2: Diễn tiến eGFR của đoàn hệ DBD (ml/phút/1,73 m², CKD-EPI 2021)
Thời điểm | DBD: trung vị (Q1–Q3) | [n] |
Ra viện | 63,7 (53,7–77,4) | 67 |
1 tháng | 58,1 (51,0–77,0) | 72 |
3 tháng | 64,5 (50,8–78,5) | 68 |
6 tháng | 69,7 (56,0–84,5) | 68 |
12 tháng | 67,9 (57,8–86,8) | 62 |
3 năm | 70,6 (62,5–87,6) | 54 |
5 năm | 73,5 (55,9–90,0) | 43 |
10 năm | 64,4 (38,9–95,7) | 13 |
Tốc độ suy giảm eGFR trung bình ở DBD khoảng 0,4 ml/phút/năm - phù hợp với báo cáo y văn về thận ghép DBD chất lượng tốt.
Bảng 3: Diễn tiến lâm sàng của cặp ghép DCD KC10 theo từng bệnh nhân
Chỉ số | BN-A (còn sống) | BN-B (đã tử vong) |
Ngày ghép | 19/6/2015 | 19/6/2015 |
Tuổi người nhận lúc ghép | ~40 | ~45 |
DGF | Không | Có |
eGFR ra viện | 70,6 | 50,0 |
eGFR 6 tháng | 27,9 | 27,7 |
eGFR 12 tháng | 42,5 | 30,9 |
eGFR 3 năm | 39,4 | 13,3 |
eGFR 5 năm | 35,1 | - (đã suy ghép) |
eGFR 8–10 năm | 41,9 → 39,5 | - |
Thải ghép / biến chứng | TCMR ≥ Banff IB tại 6 tháng, đáp ứng pulse steroid | Lao, BK virus, thải ghép cấp, CAN |
Quay lại lọc máu | Không | Có, từ 18/5/2019 (~3,9 năm) |
Tình trạng hiện tại | Còn sống, thận ghép hoạt động (> 10 năm) | Tử vong 27/9/2025 (~10,3 năm) do sốc nhiễm trùng/CAN |
BN-A = Nguyễn Văn Th; BN-B = Nguyễn Văn V. Hai bệnh nhân cùng nhận thận từ một người hiến DCD nguy cơ cao (65 tuổi, KDPI 97%). Diễn tiến trái ngược giữa hai thận ghép cùng nguồn minh hoạ tính biến thiên của kết cục thận DCD.
Sau giai đoạn hồi phục 6–12 tháng, BN-A duy trì eGFR ổn định quanh mức 35–42 ml/phút/1,73 m² (CKD G3b) trong suốt 10 năm, không suy giảm tiến triển nhanh. Ngược lại, BN-B suy giảm chức năng thận ghép sớm: eGFR còn 13,3 ml/phút/1,73 m² ở năm thứ 3 và quay lại lọc máu từ tháng 5/2019 (Biểu đồ 1). Như vậy, mô tả 'chức năng thận DCD ổn định 10 năm' chỉ áp dụng cho BN-A, không phải cho cả cặp.
Biểu đồ 1: Diễn tiến eGFR của cặp ghép DCD KC10 theo từng bệnh nhân, trên nền phân vùng giai đoạn CKD (G1–G5). Mốc quay lại lọc máu (18/5/2019, ~3,9 năm) và tử vong (27/9/2025, ~10,3 năm) của BN-B được chú thích trực tiếp.
3.3. Biến chứng sau ghép
Tỷ lệ trì hoãn chức năng thận ghép (DGF) ở đoàn hệ DBD: 13,2% (9/68) - phù hợp với y văn quốc tế (15–25%). Trong cặp DCD KC10, BN-B có DGF còn BN-A thì không. Tỷ lệ tử vong sớm (≤ 30 ngày) ở DBD là 2,6% (2/78); tử vong trong năm đầu 5,1% (4/78). Cả 02 BN DCD đều xuất viện an toàn (Biểu đồ 2).
Sinh thiết thận ghép trong nhóm DBD (n = 26 ca có dữ liệu Banff đầy đủ): TCMR đủ tiêu chuẩn 11,5% (3/26); borderline TCMR 7,7%; biểu hiện ABMR 3,8%; IFTA mức vừa (ci+ct = 2–3) 26,9%; không có ca IFTA nặng. Trong cặp DCD: BN-A có sinh thiết 6 tháng cho TCMR ≥ Banff IB (t=2, i=2), đáp ứng tốt với điều trị methylprednisolone liều cao và chức năng thận ổn định kể từ đó; BN-B có nhiều biến chứng nhiễm trùng (lao, nhiễm BK virus, nhiễm khuẩn huyết) và thải ghép cấp, tiến triển đến bệnh thận ghép mạn.
Biểu đồ 2: (A) Biến chứng sớm của đoàn hệ DBD: DGF, tử vong ≤ 30 ngày và tử vong trong năm đầu. (B) Phân bố tổn thương trên sinh thiết thận ghép DBD (n = 26) theo phân loại Banff.
3.4. Tỷ lệ sống còn
Phân tích Kaplan–Meier được thực hiện cho đoàn hệ DBD (Bảng 4, Biểu đồ 3). Đối với cặp DCD KC10 (n = 2), các tỷ lệ được trình bày dưới dạng tỷ số đếm (số ca/2) để tránh hiểu nhầm về tỷ lệ phần trăm trên cỡ mẫu nhỏ (Bảng 5).
Bảng 4: Tỷ lệ sống còn của đoàn hệ DBD (Kaplan–Meier)
Endpoint | 1 năm | 5 năm | 10 năm | p* |
Sống còn bệnh nhân (PS) - DBD | 94,7% | 91,6% | 82,4% | 0,418 |
Sống còn chung thận ghép (OGS) - DBD | 94,7% | 86,5% | 73,1% | 0,387 |
Sống còn thận ghép không tử vong (DCGS) - DBD | 94,6% | 83,0% | 0,114 |
* p (log-rank) cho phân tích phân nhóm trong nội bộ đoàn hệ DBD.
Bảng 5: Diễn tiến sống còn của cặp DCD KC10 (n = 2, trình bày theo số ca)
Endpoint | 1 năm | 5 năm | 10 năm |
Bệnh nhân còn sống | 2/2 | 2/2 | 2/2 † |
Thận ghép còn hoạt động (OGS) | 2/2 | 1/2 | 1/2 |
Thận ghép không tử vong (DCGS) | 2/2 | 1/2 | 1/2 |
† Cả hai bệnh nhân còn sống trong suốt 10 năm đầu. BN-B (Nguyễn Văn Vọng) tử vong ngày 27/9/2025 (~10,3 năm sau ghép), tức ngay sau mốc 10 năm. Thận ghép của BN-B thất bại sớm (quay lại lọc máu từ 18/5/2019, ~3,9 năm) nên OGS và DCGS của cặp giảm còn 1/2 kể từ mốc 5 năm. Cách trình bày này thống nhất với quy ước kiểm duyệt nêu ở mục 2.5.
Biểu đồ 3: Đường cong Kaplan–Meier của đoàn hệ DBD: (A) sống còn bệnh nhân (PS); (B) sống còn chung thận ghép (OGS); (C) sống còn thận ghép không tử vong (DCGS). Đường navy = ước lượng KM; vùng tô = khoảng tin cậy 95%; dấu gạch = ca bị kiểm duyệt; bảng dưới = số ca còn theo dõi (N at risk) tại các mốc thời gian.
Tại thời điểm tổng kết số liệu, đoàn hệ DBD ghi nhận 11 ca tử vong (14,1%) và 8 ca quay lại lọc máu (10,3%, trong đó 3 ca trùng với tử vong). Nguyên nhân tử vong dài hạn chủ yếu là tim mạch (3 ca) và nhiễm khuẩn huyết (4 ca). Đối với cặp DCD KC10: BN-A hiện vẫn còn sống với thận ghép hoạt động ổn định ở > 10 năm; BN-B mất chức năng thận ghép sớm, quay lại lọc máu và tử vong ở năm thứ 10 - phản ánh tính biến thiên của kết cục thận DCD nguy cơ cao.
IV. BÀN LUẬN
4.1. Chức năng thận ghép
Tỷ lệ DGF ở đoàn hệ DBD (13,2%) phù hợp với y văn quốc tế. Báo cáo OPTN/SRTR ghi nhận DGF cho DBD tại Hoa Kỳ khoảng 21,4% [5]. Tỷ lệ thấp hơn của chúng tôi có thể liên quan đến: (i) tuổi người hiến trẻ hơn (trung vị 39,5 tuổi), (ii) thời gian thiếu máu lạnh ngắn hơn (CIT trung vị 7,4 giờ), và (iii) người nhận trẻ tuổi, ít bệnh đồng mắc. Tuy nhiên, đây là so sánh gián tiếp giữa một đoàn hệ đơn trung tâm cỡ nhỏ với cơ sở dữ liệu quốc gia có đặc điểm dân số khác biệt, nên cần được diễn giải thận trọng.
Đối với cặp DCD KC10, diễn tiến của hai thận ghép cùng nguồn lại trái ngược nhau: một thận duy trì chức năng ổn định > 10 năm, một thận suy sớm và mất chức năng ở năm thứ 4. Kết cục này phù hợp với y văn về DCD nguy cơ cao (KDPI > 80%): Summers và cộng sự (Anh, 2013) ghi nhận DGF cao và biến thiên kết cục lớn đối với thận DCD từ người hiến cao tuổi [3]. Sự khác biệt giữa hai bệnh nhân - dù cùng người hiến - nhấn mạnh vai trò của các yếu tố người nhận (biến chứng nhiễm trùng, thải ghép, tuân thủ điều trị) bên cạnh chất lượng tạng hiến.
4.2. Tỷ lệ sống còn
Tỷ lệ sống còn bệnh nhân nhóm DBD đạt 91,6% tại 5 năm và 82,4% tại 10 năm, nằm trong khoảng được báo cáo trên thế giới [4-6]>. Các kết quả thuận lợi này cần được diễn giải trong bối cảnh đặc thù của đoàn hệ: người nhận trẻ hơn đáng kể (trung vị 37,5 tuổi so với 50–55 tuổi trong nhiều cơ sở dữ liệu quốc tế), ít bệnh đồng mắc khi vào ghép, cùng với khác biệt về chọn mẫu, cỡ mẫu và thiết kế hồi cứu đơn trung tâm. Do chưa hiệu chỉnh các khác biệt này, chúng tôi không kết luận rằng kết quả tại Bệnh viện Chợ Rẫy 'vượt' các báo cáo quốc tế, mà chỉ ghi nhận chúng tương đồng hoặc thuận lợi trong điều kiện dân số nghiên cứu đặc thù.
Tỷ lệ sống còn thận ghép không tử vong (DCGS) của đoàn hệ DBD đạt 83,0% tại 10 năm; không có ca DBD nào quay lại lọc máu trong năm đầu. Nguyên nhân tử vong dài hạn chủ yếu là bệnh tim mạch và nhiễm trùng - phù hợp với báo cáo của Hariharan và cộng sự [6] - nhấn mạnh vai trò của quản lý đa chuyên khoa trong chăm sóc lâu dài.
Cặp ghép DCD KC10 đầu tiên đã hoàn thành theo dõi > 10 năm. Tuy nhiên, với chỉ 02 bệnh nhân và kết cục trái ngược nhau, đây là một báo cáo cặp ca minh hoạ tính khả thi của kỹ thuật DCD chứ không phải bằng chứng về hiệu quả so sánh. Việc mở rộng chương trình DCD đòi hỏi cỡ mẫu lớn hơn và hướng dẫn chính thức của Bộ Y tế.
4.3. Hạn chế của nghiên cứu
Nghiên cứu có một số hạn chế quan trọng. Thứ nhất, đây là nghiên cứu hồi cứu, đơn trung tâm, với nguy cơ sai lệch chọn mẫu (selection bias) khi so sánh gián tiếp với các cơ sở dữ liệu quốc tế; người nhận trong đoàn hệ trẻ và ít bệnh đồng mắc hơn so với dân số ghép thận ở các nước phát triển. Thứ hai, cặp DCD chỉ gồm 02 ca thuộc cặp ghép đầu tiên KC10, không cho phép suy luận thống kê và chỉ nên được hiểu như báo cáo cặp ca. Thứ ba, tính chất hồi cứu khiến một số biến chứng nội khoa (CMV, BK, NODAT) không được ghi nhận đầy đủ ở các trường hợp đầu chương trình. Thứ tư, một số mốc thời gian biến cố ở các ca cũ dựa trên hồ sơ chưa hoàn chỉnh, đã được rà soát và thống nhất theo quy ước kiểm duyệt ở mục 2.5. Các kết quả cần được kiểm chứng qua nghiên cứu đa trung tâm với hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia.
V. KẾT LUẬN
Ghép thận từ người hiến chết não tại Bệnh viện Chợ Rẫy đạt kết quả khả quan trong 18 năm theo dõi (2008–2026), với tỷ lệ sống còn bệnh nhân và thận ghép nằm trong khoảng được báo cáo trên thế giới, trong bối cảnh đoàn hệ người nhận trẻ và ít bệnh đồng mắc. Cặp ghép thận từ người hiến chết tuần hoàn đầu tiên Việt Nam (KC10, 6/2015) cho thấy theo dõi dài hạn > 10 năm là khả thi: một bệnh nhân duy trì thận ghép hoạt động ổn định ở mức eGFR ~ 40 ml/phút/1,73 m², trong khi bệnh nhân còn lại suy ghép sớm và tử vong ở năm thứ 10. Kết quả này minh hoạ cả tiềm năng lẫn thách thức của thận DCD nguy cơ cao, làm cơ sở thận trọng cho việc cân nhắc mở rộng chương trình DCD trong khuôn khổ pháp lý phù hợp và với cỡ mẫu lớn hơn.
Tuyên bố về xung đột lợi ích
Các tác giả tuyên bố không có xung đột lợi ích liên quan đến nghiên cứu này.
Lời cảm ơn
Nhóm tác giả trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy, tập thể Khoa Ngoại Tiết Niệu và đội ngũ chăm sóc bệnh nhân ghép thận tại Bệnh viện Chợ Rẫy đã hỗ trợ trong quá trình nghiên cứu. Đặc biệt, chúng tôi tri ân các bệnh nhân và thân nhân đã đồng hành cùng chương trình ghép tạng tại Việt Nam suốt 18 năm qua.
Tài liệu tham khảo
1. Hariharan S, Israni AK, Danovitch G. Long-term survival after kidney transplantation. N Engl J Med. 2021;385(8):729–43. https://doi.org/10.1056/NEJMra2014530
2. Wolfe RA, Ashby VB, Milford EL, Ojo AO, Ettenger RE, Agodoa LY, et al. Comparison of mortality in all patients on dialysis, patients on dialysis awaiting transplantation, and recipients of a first cadaveric transplant. N Engl J Med. 1999;341(23):1725–30. https://doi.org/10.1056/NEJM199912023412303
3. Summers DM, Johnson RJ, Hudson A, Collett D, Watson CJ, Bradley JA. Effect of donor age and cold storage time on outcome in recipients of kidneys donated after circulatory death in the UK: a cohort study. Lancet. 2013;381(9868):727–34. https://doi.org/10.1016/S0140-6736(12)61685-7
4. Schaapherder A, Wijermars LGM, de Vries DK, de Vries APJ, Bemelman FJ, van de Wetering J, et al. Equivalent long-term transplantation outcomes for kidneys donated after brain death and cardiac death: conclusions from a nationwide evaluation. EClinicalMedicine. 2018;4–5:25–31. https://doi.org/10.1016/j.eclinm.2018.09.007
5. Hart A, Smith JM, Skeans MA, Gustafson SK, Wilk AR, Castro S, et al. OPTN/SRTR 2018 Annual Data Report: kidney. Am J Transplant. 2020;20(Suppl 1):20–130. https://doi.org/10.1111/ajt.15672
6. Inker LA, Eneanya ND, Coresh J, Tighiouart H, Wang D, Sang Y, et al. New creatinine- and cystatin C-based equations to estimate GFR without race. N Engl J Med. 2021;385(19):1737–49. https://doi.org/10.1056/NEJMoa2102953
7. Rao PS, Schaubel DE, Guidinger MK, Andreoni KA, Wolfe RA, Merion RM, et al. A comprehensive risk quantification score for deceased donor kidneys: the kidney donor risk index. Transplantation. 2009;88(2):231–6. https://doi.org/10.1097/TP.0b013e3181ac620b
8. Loupy A, Mengel M, Haas M. Thirty years of the International Banff Classification for Allograft Pathology: the past, present, and future of kidney transplant diagnostics. Kidney Int. 2022;101(4):678–91. https://doi.org/10.1016/j.kint.2021.11.028
9. Singh SK, Kim SJ. Does expanded criteria donor status modify the outcomes of kidney transplantation from donors after cardiac death? Am J Transplant. 2013;13(2):329–36. https://doi.org/10.1111/j.1600-6143.2012.04311.x
10. Nguyễn Tri Thức, Thái Minh Sâm, Trần Ngọc Sinh và cộng sự. Báo cáo nghiệm thu Đề tài cấp Nhà nước KC10 - Chương trình ghép tạng từ người hiến chết tuần hoàn tại Việt Nam. Bộ Khoa học và Công nghệ; 2017.
công trình này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-phi thương mại-NoDerivatives 4.0 License International . p>
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y học lâm sàng Bệnh viện Trung Ương Huế