Kết quả điều trị duy trì Olaparib ở bệnh nhân ung thư biểu mô buồng trứng giai đoạn III–IV tại Bệnh viện K

Tải xuống

Dữ liệu tải xuống chưa có sẵn.
PDF     34    4

Tóm tắt

Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, kết quả điều trị, các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị và tính an toàn của phác đồ duy trì olaparib trên bệnh nhân ung thư buồng trứng giai đoạn tiến xa (giai đoạn III-IV) tại Bệnh viện K.

Đối tượng, phương pháp: Nghiên cứu thuần tập mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu có theo dõi dọc thực hiện trên 69 bệnh nhân UTBMBT giai đoạn III–IV được điều trị duy trì bằng olaparib ( ± bevacizumab) từ tháng 01/2021 đến tháng 12/2025.

Kết quả: Tuổi trung vị của mẫu nghiên cứu là 59 tuổi. Thể mô bệnh học chủ yếu là biểu mô thanh dịch độ cao (97,1%). Đột biến gen BRCA1/2 dương tính chiếm 65,3% (BRCA1: 52,2%, BRCA2: 13,1%). Sau thời gian theo dõi trung vị 19,3 tháng, ghi nhận 15 trường hợp tiến triển, trung vị PFS ước tính 41,1 tháng (95% CI: 35,5 – NA). Phân tích hồi quy Cox đa biến khẳng định thể trạng bệnh nhân là yếu tố tiên lượng độc lập gây tiến triển bệnh nhanh (HR = 11,46; p < 0,001), trong khi mang đột biến BRCA dương tính là yếu tố bảo vệ độc lập (HR = 0,11; p = 0,003 ) làm giảm nguy cơ bệnh tiến triển. Độc tính phổ biến nhất là thiếu máu (59,4%), với tỷ lệ độc tính độ ³ 3 là 5,8%. Tỷ lệ hoãn và giảm liều thấp (lần lượt là 7,2% và 5,8%).

Kết luận: Liệu pháp duy trì olaparib sau phẫu thuật triệt căn và hóa trị bổ trợ đạt hiệu quả kiểm soát bệnh lâu dài, có độc tính thấp và khả thi trong thực hành lâm sàng trên bệnh nhân ung thư biểu mô buồng trứng giai đoạn III-IV.

https://doi.org/10.38103/jcmhch.18.5.10

Tài liệu tham khảo

Bray F, Laversanne M, Sung H, et al. Global cancer statistics 2022: GLOBOCAN estimates of incidence and mortality worldwide for 36 cancers in 185 countries. CA Cancer J Clin. 2024;74(3):229-263. doi:10.3322/caac.21834

Sung H, Ferlay J, Siegel RL, et al. Global Cancer Statistics 2020: GLOBOCAN Estimates of Incidence and Mortality Worldwide for 36 Cancers in 185 Countries. CA A Cancer J Clinicians. 2021;71(3):209-249. doi:10.3322/caac.21660

National Comprehensive Cancer Network. Ovarian Cancer/Fallopian Tube Cancer/Primary Peritoneal Cancer (Version 4.2026). Published online 2026. https://www.nccn.org/guidelines/guidelines-detail?category=1&id=1453

Perren TJ, Swart AM, Pfisterer J, et al. A Phase 3 Trial of Bevacizumab in Ovarian Cancer. N Engl J Med. 2011;365(26):2484-2496. doi:10.1056/NEJMoa1103799

Lord CJ, Ashworth A. PARP inhibitors: Synthetic lethality in the clinic. Science. 2017;355(6330):1152-1158. doi:10.1126/science.aam7344

Moore K, Colombo N, Scambia G, et al. Maintenance Olaparib in Patients with Newly Diagnosed Advanced Ovarian Cancer. N Engl J Med. 2018;379(26):2495-2505. doi:10.1056/NEJMoa1810858

Ray-Coquard I, Leary A, Pignata S, et al. Olaparib plus bevacizumab first-line maintenance in ovarian cancer: final overall survival results from the PAOLA-1/ENGOT-ov25 trial. Annals of Oncology. 2023;34(8):681-692. doi:10.1016/j.annonc.2023.05.005

Chase D, Perhanidis J, Gupta D, Kalilani L, Golembesky A, González-Martín A. Real-World Outcomes Following First-Line Treatment in Patients with Advanced Ovarian Cancer with Multiple Risk Factors for Disease Progression who Received Maintenance Therapy or Active Surveillance. Oncol Ther. 2023;11(2):245-261. doi:10.1007/s40487-023-00227-6

Đã xuất bản 18-08-2026
Toàn văn
PDF     34    4
Ngôn ngữ
Số tạp chí Tập 18 Số 5 (2026)
Phân mục Nghiên cứu
DOI 10.38103/jcmhch.18.5.10
Từ khóa ung thư biểu mô buồng trứng, olaparib, bevacizumab, BRCA1/2 epithelial ovarian cancer, olaparib, bevacizumab, BRCA1/2

Creative Commons License

công trình này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-phi thương mại-NoDerivatives 4.0 License International .

Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y học lâm sàng Bệnh viện Trung Ương Huế

Thảo, N. T. P., Huyền , P. T., Yến, L. T., & Hường , N. T. T. (2026). Kết quả điều trị duy trì Olaparib ở bệnh nhân ung thư biểu mô buồng trứng giai đoạn III–IV tại Bệnh viện K. Tạp Chí Y học lâm sàng Bệnh viện Trung Ương Huế, 18(5), 71–79. https://doi.org/10.38103/jcmhch.18.5.10