So sánh kết quả cố định và không cố định lưới trong phẫu thuật nội soi hoàn toàn ngoài phúc mạc (TEP) điều trị thoát vị bẹn một bên
Nghiên cứu | Tập 18 Số 4 (2026)
Tạp chí Y học lâm sàng Bệnh viện Trung Ương Huế, Tập 18 Số 4 (2026)
Nghiên cứu

So sánh kết quả cố định và không cố định lưới trong phẫu thuật nội soi hoàn toàn ngoài phúc mạc (TEP) điều trị thoát vị bẹn một bên

Tải xuống

Dữ liệu tải xuống chưa có sẵn.

Toàn văn

HTML     72    13
PDF     72    16
La, V. P., Tùng, N. N. T., & Khánh, P. C. (2026). So sánh kết quả cố định và không cố định lưới trong phẫu thuật nội soi hoàn toàn ngoài phúc mạc (TEP) điều trị thoát vị bẹn một bên. Tạp Chí Y học lâm sàng Bệnh viện Trung Ương Huế, 18(4), 147–153. https://doi.org/10.38103/jcmhch.18.4.20
HTML     72    13
PDF     72    16
DOI: 10.38103/jcmhch.18.4.20
10.38103/jcmhch.18.4.20
Văn Phú La
Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ
Nguyễn Ngọc Thanh Tùng
Phạm Công Khánh

Tóm tắt

Mục tiêu: So sánh kết quả sớm và trung hạn giữa hai nhóm bệnh nhân được phẫu thuật TEP có cố định và không cố định lưới trong điều trị thoát vị bẹn.

Đối tượng, phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, so sánh được thực hiện trên 90 bệnh nhân thoát vị bẹn được phẫu thuật TEP, chia thành hai nhóm: nhóm cố định lưới (n=45) và nhóm không cố định lưới (n=45). Các đặc điểm chung, yếu tố trong mổ, biến chứng sau mổ, mức độ đau sau mổ (VAS), thời gian hồi phục, số ngày nằm viện và kết quả sớm - trung hạn (theo dõi đến 12 tháng) được phân tích và so sánh giữa hai nhóm.

Kết quả: Hai nhóm bệnh nhân tương đồng về tuổi, giới, chỉ số BMI, phân loại ASA, bên và loại thoát vị (p>0,05). Thời gian phẫu thuật trung vị là 60 phút ở cả hai nhóm, không ghi nhận biến chứng trong mổ. Tỷ lệ biến chứng sớm sau mổ thấp và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm (p>0,05). Mức độ đau sau mổ tại thời điểm ra viện khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm (p=0,049). Thời gian hồi phục sau phẫu thuật, số ngày nằm viện và đánh giá kết quả sớm không khác biệt giữa hai nhóm (p>0,05). Theo dõi đến 12 tháng cho thấy kết quả trung hạn giữa hai nhóm không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về biến chứng và kết quả điều trị (p>0,05).

Kết luận: Phẫu thuật TEP có cố định lưới không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về kết quả điều trị sớm, trung hạn và tỷ lệ biến chứng sau mổ so với kỹ thuật không cố định lưới. Kỹ thuật này là một lựa chọn có thể áp dụng trong thực hành lâm sàng ở những trường hợp phù hợp.

Từ khóa:  Thoát vị bẹn, TEP, cố định lưới, không cố định lưới
🔒

Nội dung dành cho thành viên

Vui lòng đăng nhập để đọc toàn văn bài báo và tải tệp PDF.
Nếu bạn chưa có tài khoản, hãy đăng ký miễn phí.

Đăng ký
Creative Commons License

công trình này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-phi thương mại-NoDerivatives 4.0 License International .

Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y học lâm sàng Bệnh viện Trung Ương Huế