Tóm tắt
Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm hình ảnh của BTĐMC ngực trên chụp CLVT đa dãy
Đối tượng, phương pháp: Thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 37 bệnh nhân (BN) được chẩn đoán BTĐMC ngực tai tại Khoa chẩn đoán hình ảnh, bệnh viện Trung ương Huế từ tháng 4/2023 đến tháng 04/2025.
Kết quả: Trong nghiên cứu có 37 bệnh nhân, bệnh nhân nam chiếm tỉ lệ 64,9%, tuổi trung bình là 56,41 ± 12,74 tuổi, trong đó bóc tách động mạch chủ tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi 50-59 tuổi (24,3%). Có 2 bệnh nhân không thể phân loại theo Stanford mà được xếp vào non-A non-B theo phân loại TEM. Đặc điểm hình ảnh thường gặp nhất trên CLVT là dấu hiệu mỏ chim chiếm 97,3%, dấu hiệu mạng nhện (73%), đường kính lòng giả lớn hơn lòng thật tuỳ vùng (73%), vôi hoá thành mạch lòng thật (73%), dấu hiệu di lệch của vôi hoá nội mạc (73%).
Kết luận: Trong nghiên cứu có 54,1% bệnh nhân mắc BTĐMC type A, 40,5% type B và 5,4% type non-A non-B. Số lượng lỗ rách nội mạc phổ biến nhất là một. Dấu hiệu mỏ chim là chỉ điểm đáng tin cậy nhất để phân biệt lòng thật - lòng giả, trong khi dấu hiệu nội mạc phẳng và dày hữu ích trong phân biệt bóc tách cấp tính với bán cấp - mạn tính. BN BTĐMC type A có đường kính tối đa và đoạn động mạch chủ lên lớn hơn type B và giá trị thấp hơn đối với đường kính động mạch chủ xuống. Động mạch thận là mạch thường bị ảnh hưởng nhất (59,5%), song chỉ 13,5% biểu hiện thiếu máu trên lâm sàng và hình ảnh. Phân loại TEM cung cấp thông tin bổ sung về vị trí lỗ rách và tình trạng thiếu máu cơ quan đích, giúp đánh giá mức độ tiến triển bệnh và dự đoán sớm tỷ lệ tử vong trong bệnh viện.
Nội dung dành cho thành viên
Vui lòng đăng nhập để đọc toàn văn bài báo và tải tệp PDF.
Nếu bạn chưa có tài khoản, hãy đăng ký miễn phí.
công trình này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-phi thương mại-NoDerivatives 4.0 License International . p>
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y học lâm sàng Bệnh viện Trung Ương Huế