Kết quả phẫu thuật và điều trị u mô đệm đường tiêu hoá tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An
Nghiên cứu | Tập 17 Số 6 (2025)
Tạp chí Y học lâm sàng Bệnh viện Trung Ương Huế, Tập 17 Số 6 (2025)
Nghiên cứu

Kết quả phẫu thuật và điều trị u mô đệm đường tiêu hoá tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An

Tải xuống

Dữ liệu tải xuống chưa có sẵn.

Toàn văn

HTML     699    22
PDF     699    169
Chiến, Đinh V., & Linh, H. V. (2025). Kết quả phẫu thuật và điều trị u mô đệm đường tiêu hoá tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An. Tạp Chí Y học lâm sàng Bệnh viện Trung Ương Huế, 17(6), 118–125. https://doi.org/10.38103/jcmhch.17.6.17
HTML     699    22
PDF     699    169
DOI: 10.38103/jcmhch.17.6.17
10.38103/jcmhch.17.6.17
  • Đinh Văn Chiến
  • Hồ Văn Linh
Đinh Văn Chiến
https://orcid.org/0000-0001-5116-6295
Hồ Văn Linh

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Nghiên cứu nhằm đánh giá tính an toàn, hiệu quả trong điều trị u mô đệm đường tiêu hóa (GIST) bằng các phương pháp phẫu thuật và kết hợp điều trị liệu pháp đích.

Đối tượng, phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu, gồm 20 bệnh nhân được chẩn đoán GIST và được chỉ định phẫu thuật và kết hợp điều điều trị liệu pháp đích khi có chỉ định tại tại Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An từ tháng 01/2023 đến tháng 6/2025.

Kết quả: Tuổi trung bình là 58,65 tuổi, Nữ (55%) nhiều hơn Nam (45%), 80% là ASA1. 85% vị trí u ở dạ dày, 15% ở ruột non. Kích thước trung bình 5,2 ± 5,26cm. Dấu ấn hoá mô miễn dịch: 90% DOG-1 (+), 100% CD-117 (+), 100% CD-34 (+), 10% Desmin (+), 10% S100 (+), 15% có độ phân chia u cao. 80% GIST ở giai đoạn I và độ phân chia thấp, 15% GIST ở giai đoạn IV, độ phân chia cao, kích thước lớn, ở cưc trên dạ dày, ruột non di căn gan và phúc mạc. 80% được thưc hiện bằn phẫu thuật nội soi (PTNS) hoàn toàn và PTNS xuyên thành, 70% được cắt u hình chêm và bóc u. 15% phục hồi tiêu hóa theo Double-tract và Double-flap để chống trào ngược. 15% cắt đoạn ruột non và nối lại lưu thông tiêu hóa tận tận, trong đó có 10% phải cắt hết mạc nối lớn và bóc nốt phúc mạc do di căn. 100% diện cắt không còn tế bào u. Thời gian phẫu thuật trung bình là 97,75 ± 45,7 phút. Thời gian nằm viện trung bình là 6,6 ± 1,4 ngày. Không có tai biến, biến chứng và tử vong trong và sau mổ. 100% còn sống và được khám lại theo hẹn định kỳ sau mổ, thời gian theo dỏi trung bình 11,57 ± 8,34 (1,6 – 30,0) tháng. 15% có chỉ định điều trị liệu pháp đích sau mổ với Imatinib, 5% tái phát do ngừng điều trị Imatinib.

Kết luận: Phẫu thuật điều trị GIST là phương pháp an toàn và hiệu quả, tỷ lệ tai biến và biến chứng thấp, phục hồi sức khỏe sớm cho người bệnh, đảm bảo triệt căn cho GIST giai đoạn sớm, độ phân chia thấp. GIST kích thước lớn, di căn, đô phân chia cao thì phẫu thuật vừa góp phần làm giảm kích thước u, làm giảm các biến chứng từ u, và làm tăng cơ hội tiếp cận cũng như hiệu quả giảm liều của liệu pháp điều trị đích.

Từ khóa:  GIST, phẫu thuật GIST, Imatinib
🔒

Nội dung dành cho thành viên

Vui lòng đăng nhập để đọc toàn văn bài báo và tải tệp PDF.
Nếu bạn chưa có tài khoản, hãy đăng ký miễn phí.

Đăng ký
Creative Commons License

công trình này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-phi thương mại-NoDerivatives 4.0 License International .

Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y học lâm sàng Bệnh viện Trung Ương Huế