Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả độc tính cấp tính của methotrexate liều cao (HD-MTX) và phân tích các yếu tố liên quan đến thải trừ methotrexate (MTX) chậm ở trẻ mắc sarcoma xương tại Bệnh viện Nhi Trung ương.
Đối tượng, phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 42 bệnh nhi (6-16 tuổi) được chẩn đoán sarcoma xương và điều trị HD-MTX (12 g/m², tối đa 20 g) từ 01/2018 đến 12/2023.
Kết quả: Tuổi trung vị là 10 tuổi, tỷ lệ nam/nữ là 1,1/1. Có 427 đợt điều trị, trong đó 393 đợt có định lượng nồng độ MTX. Thời gian thải trừ MTX trung vị là 72 giờ (48-336 giờ); nồng độ MTX tại 24, 48 và 72 giờ lần lượt là 3,9; 0,3 và 0,1 µmol/L. Thải trừ đúng thời gian (≤72 giờ) ghi nhận ở 280/393 đợt truyền, chiếm 71,2%; thải trừ methotrexate chậm (>72 giờ) ghi nhận ở 113/393 đợt truyền, chiếm 28,8%. Tăng nồng độ MTX trên ngưỡng kỳ vọng gặp ở 9,6% số đợt truyền; tăng creatinine gặp ở 1,1%. Tăng SGOT và SGPT ghi nhận lần lượt ở 65,8% và 79,0% số đợt truyền. Giảm bạch cầu hạt, giảm hemoglobin và giảm tiểu cầu lần lượt gặp ở 38,5%, 63,1% và 5,9% số đợt truyền. Tuổi có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với thải trừ MTX chậm (OR = 1,297; KTC 95%: 1,082-1,555; p = 0,005). Điều trị MTX sau phẫu thuật có xu hướng liên quan nhưng chưa đạt ý nghĩa thống kê (OR = 0,611; KTC 95%: 0,368-1,105; p = 0,057).
Kết luận: HD-MTX trong điều trị sarcoma xương ở trẻ em thường gây độc tính gan và huyết học. Độc tính huyết học chủ yếu ở mức độ nhẹ đến trung bình. Thải trừ MTX chậm gặp ở 28,8% số đợt truyền và có liên quan đến tuổi lớn hơn.
Nội dung dành cho thành viên
Vui lòng đăng nhập để đọc toàn văn bài báo và tải tệp PDF.
Nếu bạn chưa có tài khoản, hãy đăng ký miễn phí.
công trình này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-phi thương mại-NoDerivatives 4.0 License International . p>
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y học lâm sàng Bệnh viện Trung Ương Huế