Tóm tắt
Mục tiêu: Mục tiêu của đề tài là phân tích đánh giá tính an toàn và tính khả thi của phẫu thuật nội soi cắt gan phân thùy sau điều trị ung thư gan.
Đối tượng, phương pháp: Bao gồm 25 bệnh nhân được điều trị bằng phẫu thuật cắt gan nội soi từ 01/2020 - 12/2024 tại Bệnh viện Trung ương Huế.
Kết quả: Tuổi trung bình 56,8±9,3 (38-76) tuổi, nam 100%. Kích thước khối u trung bình: 3,8±1,1 (3,1-4,9) cm, số lượng khối u trung bình: 1,1±0,3 (1-2). Kiểm soát hoàn toàn cuống gan phân thùy sau theo phương pháp Takasaki 96,0% bệnh nhân; tất cả bệnh nhân phải kẹp toàn bộ cuống gan trong khi cắt nhu mô gan và thời gian kẹp toàn bộ cuống gan 56,0±11,7 (60-90) phút. Lượng máu mất trung bình 270,2±191,3 (150-550) ml. Chuyển đổi kỹ thuật với 8,0% bệnh nhân. Thời gian phẫu thuật trung bình : 255,3±43,5 (259-308) phút. Biến chứng sau phẫu thuật gồm 3 (12,0%) bệnh nhân, và không có tử vong sau phẫu thuật. Thời gian nằm viện trung bình là 13,5±3,3 (11-16) ngày.
Kết luận: Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng khi phẫu thuật nội soi cắt gan phân thùy sau được thực hiện bởi một phẫu thuật viên có kinh nghiệm thì đây là một phẫu thuật an toàn, hợp lý và có tính khả thi ở một số bệnh nhân có khối u kích thước nhỏ ˂ 5 cm cũng như có liên quan đến việc giảm thời gian nằm viện.
Nội dung dành cho thành viên
Vui lòng đăng nhập để đọc toàn văn bài báo và tải tệp PDF.
Nếu bạn chưa có tài khoản, hãy đăng ký miễn phí.
công trình này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-phi thương mại-NoDerivatives 4.0 License International . p>
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y học lâm sàng Bệnh viện Trung Ương Huế