Y-stent và kissing stent trong điều trị tắc mật ác tính vùng rốn gan: Kinh nghiệm của chúng tôi
Nghiên cứu | Tập 17 Số 1 (2025)
Tạp chí Y học lâm sàng Bệnh viện Trung Ương Huế, Tập 17 Số 1 (2025)
Nghiên cứu

Y-stent và kissing stent trong điều trị tắc mật ác tính vùng rốn gan: Kinh nghiệm của chúng tôi

Tải xuống

Dữ liệu tải xuống chưa có sẵn.

Toàn văn

HTML     521    28
PDF     521    182
Minh, L. B. K., Ân, N. Đắc H., Tuấn, L. M., Huy, V. Q., Cát, L. D., Anh, N. V. H., … Bỉnh, L. T. (2025). Y-stent và kissing stent trong điều trị tắc mật ác tính vùng rốn gan: Kinh nghiệm của chúng tôi. Tạp Chí Y học lâm sàng Bệnh viện Trung Ương Huế, 17(1), 11–17. https://doi.org/10.38103/jcmhch.17.1.2
HTML     521    28
PDF     521    182
DOI: 10.38103/jcmhch.17.1.2
10.38103/jcmhch.17.1.2
  • Lê Bá Khánh Minh
  • Ngô Đắc Hoàng Ân
  • Lê Minh Tuấn
  • Võ Quốc Huy
  • Lê Duy Cát
  • Nguyễn Văn Hùng Anh
  • Nguyễn Anh Tuấn
  • Lê Trọng Bỉnh
Lê Bá Khánh Minh
Ngô Đắc Hoàng Ân
Lê Minh Tuấn
Võ Quốc Huy
Lê Duy Cát
Nguyễn Văn Hùng Anh
Nguyễn Anh Tuấn
Lê Trọng Bỉnh
https://orcid.org/0000-0001-5444-5708

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Tắc mật ác tính vùng rốn gan dẫn đến nhiều biến chứng, điều trị khó khăn và có dự hậu không tốt. Giảm áp đường mật và tái lập lưu thông đường mật có ý nghĩa quan trọng nhằm cải thiện triệu chứng, mở ra cơ hội điều trị và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân ung thư. Mục tiêu: đánh giá hiệu quả bước đầu của đặt Y-stent và kissing-stent trong xử trí tắc mật ác tính vùng rốn gan.

Đối tượng, phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu tại BVTW Huế và BV trường ĐHYD Huế từ 04/2022-12/2024. Chỉ định, kỹ thuật, đánh giá an toàn và hiệu quả theo hướng dẫn thực hành của Hội Điện quang can thiệp Châu Âu (CIRSE).

Kết quả: Có 18 bệnh nhân tắc mật ác tính vùng rốn gan được đặt Y-stent (n=8) và Kissing-stent (n=10), tỉ lệ nam:nữ 3:1; tuổi trung bình 59,83±11,97 tuổi. Nguyên nhân tắc mật gồm u Klatskin (n=15), di căn (n=2) và ung thư biểu mô tế bào gan (n=1). Phân độ Bismuth-Colette gồm type II (n=5), type III (n=9), type IV (n=4). Tỷ lệ thành công về mặt thủ thuật và lâm sàng là 100%. Thời gian lưu thông trung bình ở nhóm Y-stent và kissing-stent là 126,3 ngày vs.176,5 ngày. Có 2 trường hợp biến chứng nhẹ là chảy máu đường mật ở nhóm Y-stent. Tất cả bệnh nhân ra viện ổn định.

Kết luận: Y-stent và kissing stent đường mật qua da là một kĩ thuật an toàn và có hiệu quả bước đầu trong xử trí tắc mật vùng rốn gan do các các nguyên nhân ác tính.

Từ khóa:  tắc mật, can thiệp đường mât qua da, dẫn lưu, đặt stent đường mật, Y-stent, Kissing-stent
🔒

Nội dung dành cho thành viên

Vui lòng đăng nhập để đọc toàn văn bài báo và tải tệp PDF.
Nếu bạn chưa có tài khoản, hãy đăng ký miễn phí.

Đăng ký
Creative Commons License

công trình này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-phi thương mại-NoDerivatives 4.0 License International .

Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y học lâm sàng Bệnh viện Trung Ương Huế